Hướng Dẫn Chuyển Ngữ Cho Newbie

9
1322
FavoriteLoadingThêm vào yêu thích!

Dạo gần đây nhà mình tuyển vào một số editor, nhưng đa phần đều là newbie chưa biết edit. Vì thế hôm nay mình viết bài này chỉ với mục đích hướng dẫn cặn kẽ cho những ai muốn tập tành edit, hoàn toàn không có ý gì khác. Vì thế mong mọi người tôn trọng công sức và KHÔNG MANG RA KHỎI TRANG NÀY khi chưa được mình đồng ý. Thân!

Đầu tiên với những ai mới vừa tập tành edit, chưa có bất kì hiểu biết gì, chúng ta sẽ có một phần mềm dịch thô từ bản tiếng trung ra tiếng việt và dựa vào đó để edit. Ở đây mình dùng Quick translator nhé :3.

Những ai chưa có QT có thể download tại http://www.mediafire.com/file/8to5ef1qb9l8brh/QuickTrans_2017.rar

 

Tiếp theo, khi đã download về một file cố định trong máy tính, chúng ta sẽ giải nén file:

Untitled

Click vào extract here để giải nén.

Sau khi giải nén, chúng ta sẽ có một tệp tin là QuickTranslator_Vivien

Untitled1

Mở tập tin đó, kéo xuống chúng ta sẽ thấy file Quick Translator

Untitled1

Click vào file để mở file, sẽ có cửa sổ Quick translator được mở ra. Sau đó bạn mở bản raw bằng tiếng trung, copy phần cần edit, sau đó chuyển sang cửa sổ Quick translator, click vào chữ Translate from clipboard:

Untitled1

Sau khi thao tác, cửa sổ sẽ hiện ra thế này:

Untitled1

Chọn VietPhrase một nghĩa để cv, nếu có chữ nào không hiểu nghĩ, bạn có thể click vào chữ đó, bên tay trái ở ngăn bên dưới sẽ hiện nghĩa đã giải thích.

 

Không biết mấy bạn editor khác thường edit như thế nào nhưng mình thường ngăn cửa sổ QT một bên và word một bên để type thẳng vào word.

Untitleds

 

Thường có một số bạn làm từ bản cv, như thế sẽ ảnh hưởng kha khá đến văn phong và không được nuột cho lắm.

Sau khi đã hoàn tất các thao tác trên, bạn chỉ việc nhìn vào bản cv bên tay trái sau đó type lại vào word bên tay phải. Thường thì một bản edit khá thường sẽ được đánh giá qua việc đã thuần việt hóa hết chưa, câu cú có đúng theo thứ tự câu trong tiếng việt không. Có một số từ như a, nha ở cuối câu sẽ được thay đổi hoặc bỏ tùy theo ngữ cảnh. Một số từ sẽ được chuyển như:

Uy =>> Này

Ân =>> Ừm, Ừ, vâng…v…v…

Bất quá =>> chỉ là, nhưng mà, nhưng…v…v…

…v…v…

Một ví dụ đổi trật tự câu:

Tuy nhiên bạch tùng ngữ gọi mình đồng tính, thật là không thể tha thứ, thế nhưng mà vừa nghĩ tới trong khách sạn tên kia nhìn chằm chằm đậu hủ nam, Mộ Dung Dật Phong lưỡng hại tương quyền lấy hắn nhẹ, hay (vẫn) là rộng lượng mà đã đáp ứng: “Được rồi, nói nói kế hoạch của ngươi.”

=>> Tuy rằng chuyện Bạch Tùng Ngữ vừa gọi mình là đoạn tụ thật không thể tha thứ, nhưng nghĩ tới nam đậu hũ vẫn đang nhìn chăm chăm trong khách điếm kia, Mộ Dung Dật Phong suy đi tính lại, vẫn là rộng lượng mà đồng ý: “Được rồi, nói kế hoạch của ngươi đi.”

Đây là một số thứ cần lưu ý và cần tuân thủ đúng, mọi người nhớ đọc kĩ để làm, mình sẽ bôi hồng những chỗ editor thường xuyên phạm phải nhất:

1-Vấn đề xưng hô:

Lưu ý: Hạn chế xưng ta – ngươi hết mức có thể.

-Tiểu thư xưng với nô tỳ: ta – em với những người thân thiết, ta – ngươi với những người không thân thiết hoặc nhân vật phản diện.

-Nô tỳ/nô tài xưng với tiểu thư: nô tỳ/nô tài – tiểu thư, nô tỳ/nô tài – người,

-Tỷ muội trong nhà: Nếu quan hệ tốt thì xưng tỷ muội, không tốt hoặc đối đầu nhau thì xưng ta ngươi, nhưng nếu cần khách sáo vì có người ngoài hoặc có ý mỉa mai thì ta – muội hoặc ta – tỷ.

-Xưng hô với người ngoài: Nếu khách sáo thì Ta – huynh, ta – cô, thân thiết lắm mới xưng huynh – muội, nếu có ý đối địch thì ta – ngươi, ta – ông, ta – bà… tùy vào tuổi của đối phương.

-Xưng hô với bà – cháu, mẹ – con, cha – con: cha – con, mẹ – con, bà – cháu, nếu hơi xa cách thì lúc cha mẹ bà ông xưng với cháu có thể để ta – con hoặc ta – cháu. Đối với bề trên bên ngoài nên khách sáo cũng xưng hô ta – cháu, hoặc cháu – ông, bà, thúc… Thẩm/thúc/bá- cháu…

-Giữa nam chính với nữ chính: Lúc chưa thân thiết: Ta – cô, ta – huynh, đã thân hoặc có tình cảm: ta – nàng, ta – chàng, giữa vợ chồng trong nhà hoặc lúc trêu đùa, mỉa mai giữa các nhân vật chính: vi phu – nàng, thiếp – chàng.

 

2- Đại từ chỉ người:

-Hắn-nàng – anh – cô…. (với nhân vật chính diện)

-Hắn ta, nàng ta, bà ta… (với người thứ 3 được nhắc đến trong đoạn văn, hoặc chỉ nhân vật phụ được tác giả miêu tả.)

-Cha-mẹ.

-Nhân vật phản diện nam: y, gã…

-Nhân vật phản diện nữ: ả, mụ… (Trường hợp chưa lộ mặt thật thì vẫn gọi là nàng ta)

-Tương tự, người mà nữ chính không thích, tùy theo độ tuổi mà gọi là “bà ta”, “mụ ta”… thay vì “nàng ta” , nếu tuổi còn trẻ thì có thể gọi “nàng ta”

-Nam hoặc nữ còn nhỏ tuổi, nếu phản diện có thể xưng là nó hoặc ả, con bé(đối với nữ), chưa rõ có thể xưng là cậu ta, cậu chàng,…

 

3- Chuyển đổi:

-Hạn chế hết mức có thể các từ hán việt, chuyển hoàn toàn sang thuần việt:

-Hài tử thành bọn nhỏ, bọn trẻ, đám trẻ… (tùy thuộc vào từng hoàn cảnh)

-Nàng/hắn thành mình. Trong trường hợp đoạn văn tác giả miêu tả cảm xúc của nhân vật, đọc giống như đó là suy nghĩ của nhân vật.

-Bất quá: chỉ có điều, nhưng, có điều…

-Có chút: có phần, hơi….

-Một điểm: một chút

-Con ngươi: đôi mắt

-Nguyên lai: thì ra…

-Hiện tại: bây giờ…

-Giờ khắc này, giờ phút này: lúc này…

-Bức: ép

-Trì hoãn: chậm rãi, chậm chạp…

-Thanh âm: giọng nói, âm thanh(tùy ngữ cảnh)

-Âm thanh: tiếng động… (tùy ngữ cảnh)

-Nương: mẹ.

-A cha, a tía: cha

-Ân: ừ, ừm…

-Nga: vậy sao, à…

-A ở cuối câu: nếu có thể bỏ thì nên bỏ, nếu không thể thì thay vào bằng những từ thuần việt: ví dụ: Ngươi không phải là muốn vào trong cung a -> Không phải ngươi muốn vào cung sao?

-Đến (tận) cùng: rốt cục.

-Trong nội tâm: trong lòng.

-Giải khai: giải

-Không nghĩ tới: không ngờ

-Triệt để: hoàn toàn

-Tựa hồ: dường như

-Nhưng là: nhưng

-Hảo: được, vâng, tốt…

-Làm cho: khiến cho

-Nữ nhi: con gái

-Nhi tử: con trai

-Giơ lên một độ cong (tà mị…): Nở nụ cười (Tà mị…)

-Một số từ không nên cho từ của đứng trước, ví dụ như Mẹ của ta, thường thì nên chuyển thành Mẹ ta để đọc sao cho xuôi.

-ở một số ngữ cảnh nên bỏ chữ ở, tại: ở trên giang hồ, ở tại ân gia nên chuyển thành trên giang hồ, ở ân gia…

-Một số câu cảm thán như có ý tứ nên chuyển thành thú vị, tùy vào ngữ cảnh. Đồng thời từ “ý tứ” cũng có nghĩa là ý: ví dụ có ý tứ gì? Thì đổi thành có ý gì?

-Tên của hai người nối với nhau, hoặc hai vật, việc nối với nhau: vui mừng cùng âu lo -> vui mừng và âu lo; Mặc Hoàng cùng Dạ Nhiễm -> Mặc Hoàng và Dạ Nhiễm…

…. Còn rất nhiều từ, nhưng beta nên tùy vào ngữ cảnh, xem xét xem bình thường ngoài đời mình nói thế nào thì beta lại thế ấy, hoặc cũng có thể áp dụng như lúc xem phim cổ trang dịch thế nào…

-Lưu ý ngược câu: một số editor thường dính các lỗi ngược câu như

“có thể hay không giải khai huyệt đạo cho ta và Đào Yêu”

“đem chăn đắp lên người nàng”

“hắn năm đó ở trên giang hồ”

“Lâm Huyền Băng hướng về phía Lâm Huyền Thiên gật đầu một cái”

“so với nàng trước kia thiên phú tu luyện không có bằng”

“một cái mĩ mạo phụ nhân”

Đây là một vài ví dụ, nếu gặp trường hợp tương tự, mấy câu này bắt buộc phải đổi lại:

“có thể giải huyệt đạo cho ta và Đào Yêu được không/hay không?”

“Đắp chăn lên người nàng”

“Năm đó hắn trên giang hồ”

“Lâm Huyền Băng gật đầu với Lâm Huyền Thiên một cái”

“Không bằng thiên phú tu luyện của nàng trước kia” -> Lưu ý không có bằng phải chuyển thành không băng.

“Một phụ nhân mỹ mạo” -> bắt buộc phải bỏ “cái”

Chú ý viết hoa đầu câu, dấu câu…

Đây là một bài viết mình sưu tầm được từ nhà https://greenhousenovels.wordpress.com , mọi người có thể tham khảo thêm:

1/ Trong quá trình chuyển ngữ mọi người nên chú ý đến ngữ cảnh và cảm xúc của nhân vật mà linh hoạt thay đổi danh xưng giữa các nhân vật với nhau.

2/ Cấu trúc bên tiếng Trung thường hay lượt bỏ chủ ngữ, do đó phải dựa vào từng tình huống mà thêm vào.

3/ Thán từ/ từ để hỏi: Vấn đề này mọi người thường hay quên. Do bên TQ họ ít dụng thán từ nhiều như bên tiếng Việt, do đó mọi người phải chú ý điểm này để thêm vào. Đồng thời nếu tên nhân vật có âm “A” ở đầu thì nên lược bỏ

VD:  “A Hà!” -> “Hà ơi!”

“Mẹ! Đang làm gì?” -> “Mẹ ơi! Mẹ đang làm gì đó?”

4/ A hướng B làm C  ->  A làm C với B

VD: A hướng B xin lỗi  ->  A xin lỗi B

A hướng B tỏ lòng biết ơn    -> A tỏ lòng biết ơn với B

5/ Thực xin lỗi -> A xin lỗi B/ xin lỗi B

Cám ơn ->  A Cám ơn B/ Cám ơn B

6/ A đối với sự C của B thấy D -> Sự C của B làm A cảm thấy D

VD: A đối với sự tức giận của B thấy bức xúc -> Sự tức giận của B làm A cảm thấy bức xúc

7/ A muốn cùng B ở chung một chỗ -> A muốn ở bên cạnh B

VD: Nàng muốn cùng hắn ở chung một chỗ -> Nàng muốn ở bên cạnh hắn

8/ Hung hăng -> Tàn nhẫn, thật mạnh, cố gắng (từ này dịch theo ngữ cảnh)

VD: Hung hăng bóp chặt -> Tàn nhẫn bóp chặt/cố gắng bóp chặt

Hung hăng xông đến -> Xông đến một cách hung hãn

Hung hăng chèn ép -> Chèn ép thật mạnh

9/ Hận không thể làm C -> ước gì có thể làm C

VD: Hận không thể bóp nát cô -> ước gì có thể bóp nát cô

* Chỉ hận chưa làm C  -> thiếu điều chưa làm C

VD: Chỉ hận không thể ăn tươi nuốt sống C -> thiếu điều chưa ăn tươi nuốt sống C

10/ Gắt gao -> siết chặt, thật chặt (theo ngữ cảnh)

VD: Anh gắt gao ôm lấy cô -> Anh ôm chặt lấy cô

Hắn gắt gao nắm chặt tay lại -> Hắn siết chặt tay lại

11/ A đem B kéo đến/kéo vào C -> A kéo B vào/đến C

VD: Anh đem cô kéo vào phòng -> Anh kéo cô vào phòng

12/ Từ “hảo” là một từ nhiều nghĩa, khi chuyển ngữ từ này phải lưu ý dựa vào ngữ cảnh. Sau đây là một số nghĩa thông dụng của từ “hảo”: được, vâng, tốt, hay, ngon, giỏi, dạ,….

VD: “Hảo!” Em biết rồi -> “Vâng!”/ “Dạ!”/ “Được!” Em biết rồi

“Hảo a!” -> “Được thôi!”, “Được lắm!”

“Hảo ma!” -> “Vâng ạ!”, “Thôi được rồi!”, “Được thôi!”

VD: “Hảo a!” Chẳng cần anh em gì nữa. -> “Được thôi!” Chẳng cần anh em gì nữa.

“Hảo ma!” Chúng ta không đi nữa -> “Được thôi!” Chúng ta không đi nữa.

13/ Từ “kinh hỷ” -> Vừa kinh ngạc vừa vui mừng/ ngạc nhiên tới vui mừng

15/ Nhíu mi tâm -> Nhíu lông mày/ cau mày

16/ Từ “Cười lạnh” -> Cười giễu/cười mỉa

17/ Từ “Kinh sợ” -> Hoảng sợ/lo sợ

18/ Ta khao (我靠)/ Ta cỏ ( 我草) -> Chết tiệt, khốn khiếp

19/ Hoan ái -> Vui vẻ, vui sướng

VD: Sau cuộc hoan ái -> Sau cuộc vui

20/ Vui vẻ đứng lên -> Bắt đầu thấy vui vẻ, vui vẻ trở lại, vui vẻ hẳn lên

21/ Sớm an -> Chào buổi sáng

        Sớm -> Chào/ chào buổi sáng

22/ Mỗ (某) -> ai đó/cái gì đó

VD: Mỗ nhân -> người nào đó

        Mỗ thiếu -> Thiếu gia nào đó

        Mỗ gia -> Nhà nào đó

        Mỗ đông tây (某东西) -> Cái gì đó

23/Ai 拿 ai 怎么才好? -> Ai phải làm sao với ai mới tốt đây?

VD: 我拿你怎么才好?-> Anh phải làm sao với em mới tốt đây?

24/ Ai đối ai rất gì đó -> Ai rất gì đó với ai

VD: Anh đối tôi rất cưng chiều -> Anh rất cưng chiều tôi

        Cô ấy đối với tôi rất oán hận -> Cô ấy rất oán hận tôi

         Anh đối cô rất tức giận -> Anh rất tức giận cô

25/ Anh ấy tại sao lại đối với cô như vậy.

Với câu này có 2 chỗ cần chú ý:

         1/ Từ để hỏi “Tại sao”. Tiếng TQ thường hay đặt từ để hỏi sau chủ ngữ, còn tiếng việt thì hay đặt từ để hỏi trước chú ngữ, cho nên câu này phải đảo từ để hỏi ra đầu câu -> Tại sao anh ấy lại đối với cô như vậy.

         2/ là từ “đối”. Khi chuyển ngữ là chuyển là “đối xử” -> Tại sao anh ấy lại đối xử cô như vậy.

26/Từ “Kinh diễm” -> Bị làm cho kinh ngạc bởi cái gì đó quá đẹp. (Chú ý: trong tiếng việt không có từ kinh diễm, cho nên mọi người phải chú ý khi chuyển ngữ từ này).

VD: Cô làm cho anh kinh diễm -> Anh bị kinh ngạc trước vẻ đẹp của cô.

27/ Từ “Kinh hỷ” -> Vừa ngạc nhiên vừa cảm thấy vui.

VD: Anh làm cô thật kinh hỷ -> Anh làm cho cô vừa ngạc nhiên vừa vui mừng.

28/ A “thân là” + chức danh -> A là chức danh

VD: Anh thân là tổng giảm đốc -> Anh là tổng giám đốc

         Cô thân là thiên kim quyền quý -> Cô là thiên kim quyền quý

29/ 亚历山大 -> 1. Alexander        2. chịu áp lực lớn

30/ Cư nhiên -> Dám

VD: Anh cư nhiên đùa giỡn cô như vậy -> Anh dám đùa giỡn cô như vậy

Một số quy tắc gõ văn bản cơ bản

***

1/ Giữa các từ chỉ dùng một dấu trắng để phân cách.

2/ Các dấu ngắt câu như chấm (.), phẩy (,), hai chấm (:), chấm phảy (;), chấm than (!), hỏi chấm (?) phải được gõ sát vào từ đứng trước nó, tiếp theo là một dấu trắng nếu sau đó vẫn còn nội dung.

3/ Các dấu mở ngoặc và mở nháy đều phải được hiểu là ký tự đầu từ, do đó ký tự tiếp theo phải viết sát vào bên phải của các dấu này. Tương tự, các dấu đóng ngoặc và đóng nháy phải hiểu là ký tự cuối từ và được viết sát vào bên phải của ký tự cuối cùng của từ bên trái.

VD: Thư điện tử (Email) là phương tiện thông tin liên lạc nhanh chóng và hữu ích.

—–

Thêm một bài mình vừa sưu tầm được nhé

Sau đây là những lỗi editor thường mắc phải mà mình tổng hợp được trong quá trình biên tập cho các bạn và lượm lặt từ các bạn khác. Hi vọng bài viết này có thể giúp cho các bạn đã, đang và sẽ edit có thể edit mượt mà và thuần việt hơn.

 

1. Cấu Trúc Câu:

Đầu tiên, mình sẽ nói về câu cú của tiếng Hoa và tiếng Việt để các bạn dễ phân biệt

 

a/Tiếng Việt: [thời gian]- [nơi chốn] – [nguyên nhân] – [danh từ] – [động từ] – [tính từ]

b/Tiếng Hoa: [tính từ] – [động từ] – [danh từ] – [thời gian, nơi chốn, nguyên nhân]

 

Vấn đề là các bạn phải sắp lại những trạng từ về câu theo tiếng Việt. Đó là lỗi cơ bản nhất để không bị ngược câu.

 

2. Những từ “hướng, đem, so với”

 

a/ Đem gì gì đó, đặt để ở gì gì đó (VD: đem điếu thuốc đã cháy nửa dụi vào trong gạt tàn) mình phải chuyển lại là Dụi nửa điều thuốc đã cháy vào trong gạt tàn.

 

b/ Hướng đến…. gì gì đó ngồi xuống (VD: hướng đến ABC đối diện ngồi xuống = ngồi xuống đối diện với ABC)

 

c/ So với…. gì gì đó (VD: phát hiện nguyên nhân còn so với trước kia càng khó thừa nhận === phát hiện nguyên nhân càng khó thừa nhận hơn trước kia)

 

3. Câu hỏi (theo mệnh đề to be or not to be = có phải hay không)

            Có phải hay không [gì gì đó]? ==> Có phải [gì gì đó] hay không?

 

5. Những từ ngữ hán việt = thuần việt:

 

Trầm mặc = yên lặng, im lặng, yên tĩnh, trầm tĩnh

 

Thanh âm = tiếng …

 

Cơ hồ = gần như

 

Tựa hồ = tựa như

 

Hội = sẽ, biết

 

Nguyên lai: Tiếng Việt  không có từ này. Nghĩa là: Hóa ra, thì ra.

 

Cư nhiên: có nghĩa Lại có thể, lại, vậy mà

 

– Bất quá: có điều, nhưng, chỉ, chẳng qua

 

Nửa điểm: Đây là cách nói nhấn mạnh, nhiều editor thường edit “không có nửa điểm” cứ ghi “không hề” là được.

 

Phi thường: nghĩa là rất, vô cùng, hết sức…Tiếng Việt cũng có từ “phi thường” nhưng là nghĩa khác.

 

Nửa ngày: Hồi lâu, rất lâu, cả buổi

 

Kia: từ này nếu xuất hiện ở đầu câu thì edit thành “vậy” hoặc “chuyện đó”,… tùy trường hợp.

 

Thần sắc = vẻ mặt.

 

Một mảnh: một tràng (âm thanh), một màn (không gian), một màu (màu sắc),…

 

Chính là: tùy trường hợp mà edit thành “chỉ là”.

 

Ngồi xếp bằng: từ này ít gặp, nếu để nguyên thì vẫn đúng, nhưng từ này không quen thuộc lắm. Đây là tư thế ngồi gập hai chân lại và xếp chéo vào nhau, đùi và mông sát xuống mặt nền. Edit là “ngồi khoanh chân” thì dễ hình dung hơn. Nếu trong trường hợp nhân vật tu luyện nội công thì dùng “ngồi xếp bằng” cho oai phong.

 

Ôn nhu = dịu dàng, ôn hòa, nhu mì.

 

Tiêu sái: từ này đọc có thể mờ mờ hiểu nhưng chắc nhiều bạn không diễn tả được, mình cũng chịu chết không biết thay thế bằng từ nào, chỉ viết giải nghĩa vào đây cho dễ hiểu hơn thôi. Tiêu sái = phóng khoáng, thanh cao hoặc thảnh thơi không vướng bận sự đời.

 

Ngồi chồm hổm: ví dụ nhé, trong truyện có một anh nam đẹp trai phong cách, tự dưng cho anh ý “ngồi chồm hổm” thì mất hình tượng vô cùng, edit là “ngồi xổm” thì hay hơn. “Ngồi chồm hổm” nên dùng trong truyện hài thì hơn.

 

Ngày thứ hai = ngày hôm sau.

 

Đông tây = đồ vật.

 

: ví dụ có 1 người sai bảo, người kia đáp “là” → edit thành vâng, dạ,…

 

– (Người nào đấy) hướng (người nào đấy)(gì gì đấy) = (người nào đấy) (gì gì đấy) với (người nào đấy) VD: Anh hướng cô nói → anh nói với cô.

 

Tụ: từ này trong cv hay ghi là tay áo, edit là đỏ, hồng trừ trường hợp ghi hẳn là “đoạn tay áo”(đoạn tụ).

 

– Thủ hạ: từ này không phải lúc nào cũng có nghĩa là người dưới quyền (thuộc hạ), còn có nghĩa là dưới tay.

 

Trợ từ:

 

了(liễu): đã, rồi (quá khứ)

着(trứ): đang (tiếp diễn)

过(quá): từng, đã qua (quá khứ)

起来/上/开 (khởi lai/ thượng/ khai): bắt đầu

下去 (hạ khứ): tiếp tục

– Ba: các bạn hay dịch thành “đi” đó. Nhiệm vụ của nó là tăng biểu cảm trong câu thôi chứ không mang nghĩa, và Tiếng Việt mình thì có nhiều từ để diễn đạt chứ không phải chỉ có mỗi từ “đi”, nên hãy dùng uyển chuyển hơn. Lấy một ví dụ để dễ hình dung, “Không phải đi. Sáu năm trôi qua, sao em lại trở nên khai sáng, nhưng tư tưởng lại không hề giải phóng gì?” Ở đây không có ai “đi” đâu hết, nó chỉ biểu thị sự ngờ ngợ không tin nổi, nên dịch là “không phải chứ” mới đúng.

Còn một trường hợp thường sai là: “Đi thôi.” À, nếu đây là câu rủ rê cả đám cùng đi thì nó đúng, nhưng nếu 1 người ra lệnh cho người kia thì phải dịch là “Đi đi”. Nhớ xem ngữ cảnh.

 

– Các từ tượng thanh  

+ Phốc thông: bùm, tõm, tùm, bịch,…  

+ Ba ba: bang bang, đùng đùng, pằng pằng,…  

+ Cô lỗ: ùng ục  + Nguyên nguyên (原原): ùn ùn

Đôi khi, từ tượng thanh cũng được thay thế cho động tác.

VD: Nồi cháo còn phải ùng ục thêm một lát. Ùng ục ở đây là nấu.

 

 

 

6. Lượng từ:

 

là từ dùng phía trước danh từ như “con, cái, chiếc, đôi…”. Khi chuyển ngữ chúng ta nên căn cứ vào danh từ phía sau để chuyển cho phù hợp hoặc có thể bỏ hẳn (nếu không cần thiết), chứ đừng để nguyên xi như trong cv, nghe rất kỳ cục. Sau đây  xin liệt kê một vài lượng từ thường gặp trong CV.

 

a.Một ngụm

     

 

Thường xuất hiện khi nhân vật ăn uống, nếu uống thì được, chứ là đồ ăn thì đừng để là “cắn một ngụm bánh” nhé. Có thể chuyển thành cắn một miếng bánh, ăn một hớp cháo, cái này tùy.

 

Thỉnh thoảng, nó còn dùng chỉ số người, vd: “Nhà bạn có bao nhiêu nhân khẩu?”Hoặc những thứ có “miệng”: cửa sông, miệng giếng, miệng hố.

 

b.Một bút

 

Từ này thường gặp là một món/khoản tiền.

 

c. Một kiện

 

Thường đứng trước các loại quần áo;hành lý, hoặc sự vật sự việc. Nếu là quần áo thì đổi thành một cái áo, một chiếc đầm… Một kiện hàng có thể giữ nguyên

 

d. Một bả Thường dùng cho đồ vật dài có chuôi: như đao, kiếm, lược..vv hoặc những thứ có thể nắm trong bàn tay: một vốc gạo, một nắm kẹo. VD: 1 bả đao–>1 thanh đao. Thỉnh thoảng cũng dùng trước động từ. VD: một bả kéo lấy cô –> đưa tay kéo cô

 

e.Một cỗThường dùng với những từ mang mùi hương, không khí. VD: một cỗ hương thôm xộc vào mũi –> một mùi hương xộc vào mũi

 

f. Nhất điều Con hoặc vật có hình dạng dài, mềm mềm như: con rắn, lươn, cá, chiếc khăn, sợi dây,con đường, con sông.

 

g. Một đoạn      Tùy theo từ phía sau mà ta sửa cho phù hợp. Một đoạn đường, một đoạn đối thoại, một khoảng thời gian, 1 mối tình,

 

h. Một khối Thường xuyên xuất hiện trước thức ăn, và đồ vật nhỏ. VD: một thanh thỏi keo, một miếng bánh, một cục xà bông, một hòn đá, 1 mảnh vải, một tảng thịt.

 

i. Một mảnh Để mô tả không gian có diện tích lớn như một rừng hoa ngút ngàn, một màn đêm thăm thẳm.Nếu không cần thiết thì có thể bỏ đi. Vd: xung quanh im lặng một mảnh –> xung quanh im lặng như tờ. Một số trường hợp khác:một miếng bánh, một lòng tốt. một tấm chân tình, một phiến lá

 

k. Một thân Dùng để tả quần áo từ đầu đến chân, hoặc hình dáng con người. vd: một thân bạch y có nghĩa là từ đầu tới chân mặc đồ trắng.

 

l.Nhất chích Nghĩa là một con, chủ yếu dùng cho động vật.Ngoài ra còn dùng cho bộ phận cơ thể: như một con mắt, một cái miệng, một cẳng chân.

 

m.Một khỏa() Dùng cho tất cả các loại thực vật như một ngọn cỏ,một gốc cây …

 

Nhất khỏa() (Một viên) Thường dùng cho những vật có hình tròn VD: một viên đạn, một trái tim, một viên ngọc

 

n. Một tòa     Dùng cho những thứ đồ sộ như một ngôi chùa, miếu một ngọn núi, một tòa biệt thự…

 

o.Một trậnDùng để miêu tả một hiện tượng kéo dài VD: Một trận cuồng phong Một trận hương khí ( cái này mình hay thấy lắm) –> một làn hương

 

—–

I. Giới thiệu chung

Từ edit vốn có nghĩa là biên tập, trong quá trình dịch một tác phẩm thì biên tập là khâu cuối cùng, sau khi người dịch dịch hoàn thiện tác phẩm, người biên tập sẽ đọc và chỉnh sửa lại, như vậy người biên tập phải biết tiếng và có kinh nghiệm hơn người dịch để có thể chỉnh sửa lỗi. Tuy nhiên edit trong giới ngôn tình Trung Quốc hiện tại đều là người không biết tiếng, biên tập lại bản dịch khó gặm của phần mềm dịch. Khi mình mới lạc bước vào giới ngôn tình, thậm chí còn không phân biệt được dịch và edit khác nhau như thế nào, thậm chí còn suýt té ghế khi biết Lam Anh edit Tam sinh tam thế không biết tiếng Trung.

Việc edit này cơ bản là đọc hiểu bản dịch của phần mềm rồi viết lại một câu cho rõ nghĩa dễ đọc. Theo mình biết, có hai cách edit. Một là chỉ dựa vào bản convert, cách này độ chính xác được khoảng 30% hoặc thấp hơn và thường là không đọc nổi. Cách thứ hai là phải có bản tiếng Trung, dùng phần mềm để dịch lại và tra cứu ở nhiều nguồn khác những từ chưa rõ nghĩa, mình dùng cách thứ hai, với phần mềm Quick Translator(QT), tất nhiên cũng phải kết hợp nhiểu công cụ tìm kiếm và tra cứu khác. Cách làm là copy đoạn cần edit bằng tiếng Trung, mở QT rồi chọn chức năng Translate From Clipboard, phần mềm sẽ tự dịch, trên giao diện hiện lên bản Hán việt, Vietphrase một nghĩa, Vietpharase nhiều nghĩa và cả bản tiếng Trung. Bạn chỉ cần đọc bản Vietphrase một nghĩa kết hợp với bản Hán việt, rồi viết lại câu, chú ý tên nhân vật phải viết theo Hán Việt.

II.  Làm thế nào để có bản edit đúng.

Tất nhiên đúng ở đây chỉ là đúng theo nghĩa tương đối, như mình đã nói ở trên, không bao giờ có bản edit đúng theo nghĩa tuyệt đối, nhưng cũng cần tránh có bản edit sai quá nhiều so với bản gốc, người đọc chắc chắn không thể biết được bản edit đó sai, chỉ có bạn là người đọc bản Hán việt và bản Vietphrase một nghĩa là có thể biết, vì vậy mình có tổng hợp một số nguyên tắc như sau:

1. Nguyên tắc 1: Lúc nào cũng phải cẩn thận.
 
Công việc dễ sai nhất quả đất này chính là edit, vì vậy cẩn thận là nguyên tắc hàng đầu. Khi mình edit Vân Trung Ca đã sai rất nhiều lỗi không tra cứu cẩn thận thế này, ví dụ: Xảo quả là loại bánh trong Khất xảo tiết, lúc đầu mình đã edit thành hoa quả được bày khéo léo, Xá nhân là người đi theo hầu, đây là từ cổ, lúc đầu mình edit thành người có ơn, Kiếm hoa là tên một loại cây, lúc đầu  mình tưởng là tên một thế kiếm…Tất nhiên những lỗi như thế này khi mới tập tành edit rất khó phát hiện ra, ai mà biết một từ như vậy lại có nghĩa khác, vì vậy, nguyên tắc cẩn thận chính là phải luôn luôn nhìn kết hợp bản Hán việt và bản Vietphrase, không chỉ chăm chú nhìn vào bản Vietphrase một nghĩa. Gặp từ nào thấy nghi ngờ phải tra cứu ngay, trước hết là tra cứu bằng Google.

Khi nói về tra cứu, mình cần nói thêm một chút về cách tra cứu, nói thật nhé, không phải ai cũng biết cách tìm kiếm như thế nào cho hiệu quả nhất với các trang tìm kiếm đâu. Cách của mình là dùng dấu ngoặc kép kết hợp với dấu + để loại bỏ những kết quả không cần thiết. Ví dụ muốn tìm câu “Ba tháng không biết vị thịt” mà bạn nghi tác giả là Khổng Tử, hãy đánh vào ô tìm kiếm của Google như sau:

“Ba tháng không biết vị thịt”  + “Khổng Tử”

Khi tìm kiếm như thế này cũng phải rất kiên nhẫn nữa, có khi tìm tới trang thứ n mới ra được kết quả. Nếu tìm bằng Google không ra, bạn bôi đen từ cần tra ở QT, bấm chuột phải chọn Baikeing, QT sẽ kết nối với Baike, bạn copy đoạn giải thích về từ cần tra, mở một QT mới, để phần mềm dịch và đọc hiểu. Nếu có lỗi không kết nối được với Baike, bạn copy từ tiếng Trung đó rồi tìm với Google, lưu ý dùng dấu ngoặc kép.

Với những bạn mới tập edit, việc đầu tiên là hỏi Google ca ca xem có bao nhiêu bài hướng dẫn edit, nghiên cứu trước rồi hãy bắt tay vào làm. Trước khi edit mình cũng bỏ ra mấy ngày, tìm và nghiên cứu mấy bài hướng dẫn thế này.

Nhân tiện nói thêm về tên riêng của nhân vật, tên nhân vật tất nhiên phải chọn Hán việt, nếu QT chưa nhận ra đó là tên và không viết hoa, bạn bôi đen tên nhân vật, bấm chuột phải, chọn Add To Name, QT sẽ tự nhận diện đó là tên riêng, viết hoa theo Hán việt chứ không dịch ra nữa.

2.  Nguyên tắc 2: Ngữ pháp tiếng Việt và tiếng Trung khác nhau, hãy điều chỉnh cho phù hợp.

  • Trước khi viết một câu bạn nên tự hỏi, chủ ngữ đâu, vị ngữ đâu, rất nhiều bản edit rơi vào trường hợp câu không có chủ ngữ, nếu không có tất nhiên là mình phải tự thêm vào.

Mình hay xét câu theo thứ tự: Chủ ngữ + động từ + vị ngữ để viết câu cho đúng.

VD: Cô từ trong ví lấy ra một tờ hóa đơn

Câu đúng là: Cô lấy từ trong ví ra một tờ hóa đơn.

  • Thứ tự từ: thứ tự từ trong tiếng Việt và tiếng Trung khác nhau, cần thay đổi lại chứ không dùng như bản QT đã dịch được.

VD: Là Hoàng hậu Trần Quốc chứ không phải Trần Quốc hoàng hậu, là Vương phi Lan Lăng chứ không phải Lan Lăng Vương Phi, là phủ Đại Tư Mã, Điện Tuyên Thất chứ không phải Đại Tư Mã Phủ, Tuyên Thất Điện…

  • Tiếp đến là dấu câu, bản được QT dịch thường có dấu chấm, phẩy không phải là chính xác nhất, cũng hay có dấu ; nên bạn nên tự ngắt câu, thay đổi dấu cho phù hợp.
  • Tiếp nữa là về trạng ngữ, câu trong tiếng Việt thường viết trạng ngữ ở đầu câu, nhưng trong tiếng Trung thì chủ ngữ thường ở đầu câu. VD QT sẽ dịch ra là:

Ta mấy ngày nữa sẽ tới thăm nàng.

Nên chuyển thành: Mấy ngày nữa, ta sẽ tới thăm nàng.

Hoặc: Hôm nay ta ở chợ nghe tin đồn về ngươi.

Nên chuyển thành: Hôm nay ở chợ, ta nghe tin đồn về ngươi.

  • Trong tiếng Trung, chủ ngữ rất hay ở đầu câu, nhưng trong tiếng Việt thì không phải lúc nào cũng thế, ngoài trường hợp trạng ngữ, các trường hợp khác bạn cũng nên cân nhắc để viết câu cho đúng.

VD: Cậu nếu không bận, ở lại chơi đi.

Nên viết là: Nếu cậu không bận, ở lại chơi đi.

3.  Nguyên tắc 3: Ngôi xưng quyết định phần lớn độ hay trong tác phẩm của bạn

Các bạn đều biết ngôi xưng trong tiếng Việt của chúng ta rất phong phú và đa dạng, nhưng ngôi xưng trong tiếng Trung khi QT dịch ra đều là ta và ngươi, cái này hoàn toàn tương tự như I và you trong tiếng Anh, nhưng khi dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, tất cả chúng ta đều tự chuyển đổi cho phù hợp, có điều trong rất nhiều bản edit, các bạn vẫn giữ nguyên là ta – ngươi. Hãy lựa chọn ngôi xưng tiếng Việt cho phù hợp, điều này quyết định phần lớn độ hay trong tác phẩm của bạn.

Con cái nói với trưởng bối, hãy gọi cha/mẹ/chú/bác/ cô / dì/ thúc/ bá/ cô cô/ phụ thân/ mẫu thân…., trưởng bối nói với con cháu, có thể xưng ta hoặc cha/mẹ/ chú/ bác… gọi bậc con cháu là con hay cháu. Thử nghe câu này của Hoắc Khứ Bệnh nói với Tam ca nhé:

“Thật vất vả mới đợi tới lúc các ngươi đều trưởng thành, lúc này đương nhiên phải làm việc cần làm thôi.”

Bạn nghe câu này sẽ thấy sao?

Câu đúng phải là:

“Thật vất vả mới đợi tới lúc các con đều trưởng thành, lúc này đương nhiên phải làm việc cần làm thôi.”

Điều này áp dụng tương tự khi nhân vật xưng hô với huynh/đệ/tỷ/ muội của mình. Tóm lại là hạn chế dùng ngôi xưng ngươi – ta hết mức có thể, kể cả từ các ngươi, có thể thay bằng mọi người, hay mấy đứa…

Còn khi là hai người đang yêu nhau thì tùy trường hợp các bạn lựa chọn ngôi xưng cho phù hợp.

Điều tiếp theo phải nói khi viết về ngôi xưng đó là hai từ nàng và hắn.

Trước hết là từ hắn, từ này giống hệt từ he trong tiếng Anh, tức là dùng thay cho người là nam khi được nhắc tới. Tất nhiên, mọi trường hợp QT đều dùng từ hắn, còn khi edit bạn nên lựa chọn cho phù hợp. VD khi nhắc tới nhân vật nam đã lớn tuổi, không nên dùng từ hắn, hãy dùng ông ấy, ông ta(thường dùng trong câu văn tường thuật), bác ấy, thúc ấy, bá ấy, chú ấy(thường dùng trong lời nói của các nhân vật với nhau)…

Khi một số nhân vật nói về lão gia, công tử, hay hoàng thượng với người khác, cũng vẫn dùng từ hắn, trong trường hợp này nên thay bằng từ người hoặc ngài để thể hiện sự tôn trọng, lưu ý là vẫn phải tùy trường hợp. VD như cha con Hoắc Quang nhắc tới Lưu Phất Lăng mình vẫn dùng từ hắn, vì bọn họ chắc chắn là không coi trọng hoàng thượng.

Có một trường hợp nữa, đó là khi trong truyện có người mang thai và nói về đứa con trong bụng mình, khi đó QT cũng dùng từ hắn. Bạn thử nghĩ xem, từ hắn trong trường hợp này sao dùng được, hãy dùng từ nó hay bé yêu hay gì đó tùy hoàn cảnh. Kể cả khi đề cập tới một bé trai rất nhỏ, VD như Lưu Thích mới 3 tuổi, QT cũng dùng từ hắn, khi đó hãy dùng từ nó hoặc lựa chọn khác của bạn cho phù hợp.

Khi một cô gái nhắc về người mình yêu, thay vì từ hắn hãy dùng từ chàng hay huynh ấy.

Áp dụng tương tự với từ nàng, từ này chỉ dùng phù hợp khi nhắc tới một cô gái trẻ, khi nhắc tới một phụ nữ đã lớn tuổi hãy dùng bà ấy, bác ấy, cô ấy…, và khi nhắc tới một đứa bé gái cũng không nên dùng từ nàng, hãy dùng nó, cô bé, bé… tùy trường hợp.

VD: Khi gặp mẹ thiếp, nàng có hỏi, chàng hãy…

Câu đúng là: Khi gặp mẹ thiếp, có hỏi, chàng hãy…

Hoặc: Khi gặp mẹ thiếp, mẹ có hỏi, chàng hãy…

Đọc tới đây bạn đừng cười, có nhiều bản edit thế lắm.

Khi nhân vật nhắc tới một người phụ nữ mà mình ghét, cũng đừng nên dùng từ nàng, ghét như thế thì gọi nàng sao được, hãy dùng từ nàng ta, cô ta hay thậm chí là ả ta. Khi từ này dùng để nhắc tới một người phụ nữ có thân phận cao quý cũng nên chọn thay bằng người, hay bà cho phù hợp.

Khi truyện thuộc thể loại xuyên không, là lời kể của nhân vật nữ chính, thay vì dùng ngôi xưng ta, bạn hãy dùng “tôi”, thậm chí khi cô ấy gọi những người khác chắc cũng không dùng mấy từ cổ kiểu như huynh/đệ/ tỷ/ muội…, hoặc cô ấy cũng không xưng là thiếp đâu, vì bạn thử nghĩ xem, ngôn từ của người hiện đại bây giờ khác xưa mà.

Khi cha mẹ hay trưởng bối nhắc tới con gái/cháu gái của mình, bạn cũng không nên dùng từ nàng, hãy dùng từ con bé, nó, hay em con/em cháu, chị con/tỷ của con/chị  cháu/tỷ của cháu (nếu nói với con/cháu của mình).

VD: Hoắc Khứ Bệnh nói với Tam ca: “Nếu có thời gian, con để ý tới nàng(Vân Ca) một chút.

Câu đúng là: Nếu có thời gian, con để ý tới em con một chút.

Khi huynh tỷ/ đệ muội nói về chị/em của mình, cũng không nên dùng từ nàng, hãy dùng tỷ ấy/muội ấy.

4.   Nguyên tắc 4: Hãy cảnh giác, không phải lúc nào QT cũng đáng tin.

Đó là trong trường hợp có ba từ A  B C cạnh nhau, QT ghép A và B để dịch nghĩa, trong khi câu đúng phải là để A tách riêng, ghép B và C để dịch nghĩa hoặc ngược lại. Trường hợp này thì phải cảnh giác thôi.

VD: về trường hợp này lấy ví dụ hơi khó, tạm thời bỏ qua nhé, mình chưa lần mò mấy bản QT được.

5.   Nguyên tắc 5: Chỗ nào dùng từ Hán việt, chỗ nào phải dùng từ thuần Việt mà không phải Hán việt, đó là vấn đề.

Như ở trên mình có nhắc tới một số trường hợp, điều này quan trọng trong bản edit của bạn, nhưng áp dụng như thế nào thì tùy thuộc vào vốn từ và khả năng linh hoạt của bạn. Quá nhiều từ Hán việt sẽ khiến người đọc không hiểu, còn dùng từ thuần Việt quá sẽ làm giảm độ hay của tác phẩm, nhất là với truyện cổ đại. Có một số cụm từ bốn chữ có thể chuyển sang thuần Việt thế này:

  •        Hữu thuyết hữu tiếu: vừa nói vừa cười.
  •        Tựa tiếu phi tiếu: Như cười như không, hay cười như không cười, hay gì đó tùy vào cách dùng từ của bạn.
  •         Nương: đừng dùng từ này, hãy dùng từ mẹ.
  •         Lão bà: hãy dùng vợ/thê tử/ nương tử …
  •         Lão công: hãy dùng chồng/phu quân/trượng phu…
  •         Lão nhân gia: hãy dùng ông lão/ông cụ/bà cụ/bà lão tùy trường hợp, lão bà bà nên chuyển thành bà cụ.
  •        Thanh âm: hôm trước mình có thắc mắc, tiếng Việt có từ này không, có rất ít từ điển có từ này, và rất ít dùng, vì thế nên dùng giọng nói, tiếng nói, âm thanh, tiếng động… tùy trường hợp cho phù hợp.

VD: Thanh âm của hắn khàn khan.

So với: Giọng nói của hắn khàn khàn thì câu 2 hợp lý hơn.

  •       Thân ảnh: tiếng Việt cũng không có từ này, hãy dùng từ bóng, hình bóng, hình ảnh…cho phù hợp.
  •        Hỉ bà(trong đám cưới): hãy dùng từ bà mối.
  •       Tranh thủ tình cảm: có thể bạn sẽ đọc được câu này như kiểu “phi tần tranh thủ tình cảm”, xin thưa, đó phải là “phi tần tranh sủng”, từ Hán việt tranh sủng đã được dịch thẳng ra.
  •         Nô tỳ: có một số phi tử, vương phi khi xưng với vua hay vương gia đều là nô tỳ, hầy, sao mà lại hạ mình tới thế, không phải đâu ạ, bản Hán việt vốn là từ thần thiếp, nhưng QT lại dịch thẳng ra là nô tỳ.
  •         Sườn phi: giải thích giống trên, từ đúng là Trắc phi, vì trắc nghĩa là sườn.
  •          Đủ loại quan lại: từ đúng là bách quan.
  •         Bất quá: nên dùng là cùng lắm, nhưng mà, có điều…tùy trường hợp.
  •         Thủy chung: ở tiếng Việt từ này nghĩa là tình cảm không thay đổi, nhưng từ Hán việt này trong một số trường hợp nghĩa là từ đầu tới cuối.

VD: Hắn thủy chung không nói câu nào.

Câu đúng là: Từ đầu tới cuối, hắn vẫn không nói câu nào.

  •         Ly khai: từ đúng là rời đi.
  •        Nhảy dựng lên: không phải lúc nào cũng là nhảy dựng lên, có chỗ sẽ là đứng bật dậy.
  •         Liền: trong bản convert, từ liền này có rất nhiều, tùy trường hợp bạn nên chuyển thành: thì, sẽ, đã, rồi…, chỉ dùng từ liền trong trường hợp chỉ một hành động diễn ra ngay sau đó, còn là hành động trong quá khứ, nên dùng từ đã.

VD:  Nếu thúc thúc không thích, liền thưởng cho chất nhi đi.

Nên viết là: Nếu thúc thúc không thích, thì thưởng cho chất nhi đi.

Hai con kiệt khuyển mất của Lưu Tư vô số tâm huyết, nhưng không ngờ trong chớp mắt liền mất đi một con.

Nên viết là: Hai con kiệt khuyển mất của Lưu Tư vô số tâm huyết, nhưng không ngờ trong chớp mắt đã mất đi một con.

  •          Là, thì là, chỉ là, cũng là, có là…: những từ này phần lớn nên bỏ đi hoặc thay đổi cho phù hợp.

VD: Nàng chỉ là muốn ở cạnh hắn lâu một chút.

Câu đúng là: Nàng chỉ muốn ở cạnh hắn lâu một chút.

Ngươi muốn uy hiếp ta sao?

Câu đúng là: Ngươi đang muốn uy hiếp ta sao?

Khi thấy thế, nàng cũng là nước mắt tuôn rơi.

Câu nên viết là: Khi thấy thế, nước mắt nàng cũng tuôn rơi.

Bạn nên chú ý thêm là liên từ QT dịch ra thường không nên sử dụng, bạn nên chọn liên từ cho phù hợp với câu của mình.

  •        A ở cuối câu: phần lớn cũng nên bỏ đi, để từ a này, theo mình câu văn sẽ không mang tính nghiêm túc. Áp dụng tương tự với từ nha ở cuối câu.
  •         Cười hắc hắc: có thể bạn nghĩ từ này là điệu cười đặc biệt, không phải vậy đâu, cười thì không hắc hắc được, câu đúng là cười ha hả, hoặc cười hì hì.
  •         Từ tượng thanh: phần lớn từ tượng thanh bị dịch ra đều là từ kỳ cục, bạn phải tự hình dung xem tiếng động đó thực tế thế nào để dùng từ cho phù hợp.

VD: QT dịch là cánh cửa kêu chi nha, có bạn đã chú thích hẳn ra là chi nha là tiếng cửa. Làm gì có cánh cửa nào kêu như tiếng này, từ đúng là kẽo kẹt.

QT dịch khóc là ô ô, làm gì có ai khóc ô ô, nên để là khóc hu hu hoặc tùy trường hợp để nghĩ ra từ tượng thanh cho phù hợp.

Ba: chẳng có tiếng động nào là ba hết, tùy trường hợp sẽ là Bốp hoặc Bộp, VD: tiếng cái tát là Bốp chứ làm gì có tiếng cái tát là Ba.

Tất cả cách trường hợp khác cũng vậy, tiếng động là ầm ầm, vù vù, ào ào, choang, leng keng, róc rách, vi vu….

  •          Đem: khi một câu có một hành động được QT dịch ra đều có từ đem, từ này cần phải bỏ đi, chỉ có một số vô cùng ít trường hợp nó là đem thật thì mới giữ lại.

VD: Quan phủ đem hắn bắt lại

Câu đúng là: Quan phủ bắt hắn lại.

Hắn đem ta bảo vệ ở phía sau.

Câu đúng là: Hắn bảo vệ ta ở phía sau.

  •          Hướng, hướng về phía: từ này chỉ phương hướng, tùy trường hợp bạn cũng bỏ đi hoặc thay từ cho phù hợp.

VD: Hắn hướng ra phía ngoài bước đi.

Câu đúng là: Hắn bước ra bên ngoài.

Vu An hướng Lưu Hạ hành lễ.

Nên dùng là: Vu An hành lễ với Lưu Hạ.

Tiểu cô nương hướng bọn họ vẫy vẫy tay.

Nên dùng là: Tiểu cô nương vẫy vẫy tay với bọn họ.

  •         Cùng: từ này phần lớn trường hợp nên dùng là “và” sẽ đúng hơn.

VD: Mạnh Giác cùng Hoắc Thành Quân không biết vì sao vẫn đứng nguyên tại chỗ

Câu đúng là: Mạnh Giác Hoắc Thành Quân không biết vì sao vẫn đứng nguyên tại chỗ

  •         Như thế nào: hầu như câu hỏi nào QT dịch ra cũng có từ này, nhưng phần lớn nên thay bằng từ khác, có thể là vì sao, sao, sao mà, sao lại…tùy trường hợp.

VD: Hắn như thế nào lại không tới?

Câu nên dùng là: Sao hắn lại không tới?

Hay: Vệ Thái tử như thế nào lại gọi là không có con nối dõi chứ?

Câu đúng là:  Sao lại nói là Vệ Thái tử không có con nối dõi chứ?

  •          Sao ở cuối câu hỏi: hầu như câu hỏi nào được QT dịch cũng có từ sao ở cuối câu, tất nhiên dùng thì không sai, nhưng đọc nhiều sẽ lặp từ và chán, bạn có thể thay bằng các từ cuối câu hỏi khác như, à? Hả? thế sao? Ư?…
  •         Vì cái gì: rất nhiều câu hỏi QT dịch ra cũng có từ vì cái gì, như đã nêu ở trên, dùng nhiều sẽ chán mà có khi còn không hợp lý, bạn có thể chuyển thành vì sao? Sao?
  •          Tất cả đều là: chỉ có đầy một thứ gì đó.

VD: Trên người hắn tất cả đều là mồ hôi.

Nên viết là: Trên người hắn đầy mồ hôi.

Trong mắt nàng tất cả đều là sợ hãi.

Nên viết là: Trong mắt nàng chứa đầy sợ hãi.

  •         Đông tây: không phải lúc nào cũng là đông tây, nó có nghĩa là gì đó, cái gì đó.

VD: Vân Ca lục lọi tìm đông tây trong phòng.

Câu đúng là: Vân Ca lục lọi tìm cái gì đó trong phòng.

  •          Cà lơ phất phơ: chỉ một người giống…Lưu Hạ, bản thân mình thấy từ này khá kỳ cục, nên mình dùng ba lăng nhăng hoặc cợt nhả.
  •          Nghiêng nghiêng ngả ngả: từ này rất hay xuất hiện, bạn có thể dùng hoặc thay bằng Chân nam đá chân chiêu, lảo đảo, lảo đà lảo đảo, loạng choạng, loạng chà loạng choạng, thất tha thất thểu….
  •         Nguyên lai: từ đúng là hóa ra, lẽ ra.
  •          Phi thường: rất, vô cùng, hết sức…

VD: Tôi phi thường ngạc nhiên.

Câu đúng là: Tôi rất ngạc nhiên hoặc Tôi vô cùng ngạc nhiên.

  •          Cư nhiên: Lại, lại có thể…
  •         Nghĩ muốn: chỉ là muốn thôi, bỏ từ nghĩ đi.

VD: Con nghĩ muốn trêu a tỷ thôi.

Câu đúng là: con muốn trêu a tỷ thôi.

  •        Bát quái: khi tả về tính cách hoặc chuyện buôn dưa thì từ này không có nghĩa là bát quái, nó nghĩa là nhiều chuyện, giống từ “bà tám” hoặc tám chuyện ở miền Nam ấy, không biết có phải từ bà tám và tám chuyện bắt đầu từ cộng đồng người Việt gốc Hoa nên mới thế không nhỉ?
  •         Hưu: nghĩa là bỏ, như kiểu ly hôn bây giờ ấy.

VD: Nàng là một cô gái bị hưu.

Câu đúng là: Nàng là một cô gái bị bỏ.

  •          Thú: nghĩa là cưới.(Thế mới có từ Hôn thú ấy mà)

VD: Ta sẽ không thú nàng.

Câu đúng là: Ta sẽ không cưới nàng.

  •          Trừ bỏ: nên dùng là ngoài, hoặc ngoài ra.

VD: Mấy hôm nay, trừ bỏ ăn tôi chỉ có ngủ.

Câu đúng là: Mấy hôm nay, ngoại trừ ăn tôi chỉ có ngủ.

  •         Ngày thứ hai: một số trường hợp phải là ngày hôm sau mới đúng.

Khi edit bạn cũng nên xem bản tiếng Trung, dù rằng không biết nghĩa của từ nhưng tiếng Trung là chữ tượng hình, một vài trường hợp chỉ cần nhìn chữ tiếng Trung là hiểu để giải thích được.

Từ chuyên ngành của một số lĩnh vực cũng cần chú ý, có một số từ phải giữ nguyên Hán việt mới đúng, nhưng QT lại dịch thẳng ra, muốn biết tất nhiên bạn phải hỏi Google rồi.

6. Nguyên tắc 6: Đoán bừa cũng nên có căn cứ.

Vì sao lại nói là đoán bừa, vì có một số từ QT không tra nghĩa được, mà tra ở chỗ khác cũng không được nên phải đoán bừa, nhưng cũng đừng quá chế bậy. Bạn nên liên hệ nội dung đoạn trước và đoạn sau, cố gắng suy đoán xem từ không dịch được đó là nghĩa gì.

III.   Làm thế nào để có bản edit hay.

Để có bản edit đúng đã khó, nhưng để hay thì cần nhiều thời gian hơn, mình có tổng hợp một số nguyên tắc thế này.

1. Nguyên tắc 1: Sử dụng từ đồng nghĩa một cách linh hoạt.

Khi bạn bấm vào một từ trong QT, màn hình sẽ hiện thị tất cả các nghĩa của từ đó, hãy chọn nghĩa mà bạn cho là phù hợp nhất, khi thấy rằng tất cả đều không phù hợp, hãy nghĩ ra các từ đồng nghĩa khác bạn có thể nghĩ tới, nếu bạn thấy thế quá phiền, vậy khó có được bản edit hay lắm.

Khi dùng từ, bạn cũng nên chú ý tới truyện mình edit là truyện hài hước hay chính truyện, nhân vật đang được nói tới như thế nào, nhân vật đó sẽ phải dùng những từ như thế nào mới thể hiện rõ được phong cách của mình?…

 Có một lần mình đọc được một đoạn trong một truyện nói về nữ chính là hoàng hậu bị ngã, trong một chính truyện nhé, bạn edit dùng từ “ngã chổng bốn vó”, nghe công nhận buồn cười đúng không, nhưng vào truyện như thế thì sẽ là chuyển ngữ lố bịch ấy.

2.  Nguyên tắc 2:

Học hỏi cách dùng từ của người khác qua những truyện mà bạn đọc, hãy tích lũy vốn từ, cách diễn đạt và viết câu. Edit không phải là copy y nguyên những gì QT dịch ra đã rõ nghĩa, mà là viết lại câu văn bằng giọng văn và cách diễn đạt của bạn, tất nhiên điều này tùy vào khả năng của mỗi bạn khi edit.

3.  Nguyên tắc 3:

Để edit hay thì tin QT càng ít càng tốt, tức là đừng dùng hết thảy những gì QT dịch ra, mà hãy diễn đạt sao cho hay hơn. Nguyên tắc này nói gọn lại là dùng từ đồng nghĩa một cách hợp lý và linh hoạt nhất, và diễn đạt câu một cách hay nhất.

VD: Nàng cái gì cũng không muốn nghĩ tới.

Câu này rõ nghĩa, nhưng không hay.

Câu nên viết là: Nàng không muốn nghĩ tới gì hết.

Thành ngữ, tục ngữ cũng rất hay bị QT tự ý chuyển đổi sang tiếng Việt với nghĩa gần tương đương.

VD: Khi Mạnh Giác kể chuyện cha mình dùng đệ đệ để tráo với Lưu Tuân, QT đã dùng thành ngữ “treo đầu dê bán thịt chó” trong khi câu đúng là “thay xà đổi cột”, về nghĩa thì không sai, mà dùng câu “treo đầu dê bán thịt chó” trong trường hợp này thì…

Khi tả về Mạnh Giác nói chuyện với ai cũng hợp trong đám cưới của Bệnh Dĩ, câu thành ngữ là “trường tụ thiện vũ”, nghĩa là “tay áo dài khéo múa”, QT đã rất thông minh chuyển thành “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền”

Khi tả về Bệnh Dĩ, QT đã dùng câu “ăn bữa nay, lo bữa mai” trong khi câu đúng là: triêu bất bảo tịch, nghĩa là an toàn vào buổi sáng nhưng không đảm bảo còn được thế tới tối.

Câu này về nghĩa cũng không sai nhiều lắm, nhưng không thể hiện rõ ý của câu thành ngữ mà tác giả dùng, vì “Ăn bữa nay, lo bữa mai” chỉ là lo về ăn uống thôi, còn Bệnh Dĩ phải lo cả về mạng sống nữa.

Nói thêm về thành ngữ, Trung Quốc có rất nhiều thành ngữ có dùng tới bảy và tám(thất và bát).

VD: Thất quải bát nhiễu là bảy rẽ tám ngoặt. Chẳng có bảy lần rẽ, tám lần ngoặt gì sất, chỉ tả một đoạn đường nhiều chỗ rẽ ngoặt.

Thất chủy bát triệt: đại ý là bảy miệng tám lưỡi, chỉ lắm mồm lao nhao, mình vẫn chưa nghĩ ra câu gì tương đương của tiếng Việt để thay thế, dùng Mồm năm miệng mười thì chỉ áp dụng cho một người lắm mồm, còn câu trên dùng tả đám đông, nên mình thường chỉ thay thế tả đám đông ồn ào thôi.

Thất tinh bát lạc: bảy rơi tám vãi, chỉ đồ vật lung tung.

Loạn thất bát tao: chỉ đồ đạc lung tung, tùy hoàn cảnh, nếu là truyện có chút hài hước có thể dùng từ hầm bà lằng, còn không cứ chuyển thành lung tung lộn xộn cho nó vuông.

Nhiều thành ngữ khác liên quan tới điển cố, QT thường có ghi đơn giản, bạn nên bỏ thời gian gõ ra để mọi người dễ hiểu, câu nào không có chú thích thì hỏi Google là ra. Có một số có thể thay thế bằng câu tương đương của tiếng Việt thì cứ thay, VD: đánh cỏ động rắn(đả thảo kinh xà) có thể thay bằng Đánh rắn động cỏ, Kiến phong sử đà nghĩa là lái theo chiều gió có thể thay bằng Gió chiều nào xoay chiều nấy…, nhưng một số câu có liên quan tới điển cố, VD: Vừa mất phu nhân lại thiệt quân, không nên thay bằng Mất cả chì lẫn chài.

4. Nguyên tắc 4:

Tên chương và tên truyện phải chuyển ngữ sao cho hay hơn bình thường một chút, đừng nên dùng y chang chuyển ngữ của QT. Nếu bạn không chuyển ngữ cho hay được cũng phải giải thích cho người đọc hiểu, không nên để nguyên tên chương là Hán việt, người đọc chắc chắn không hiểu được, và tên chương phần lớn đều hay, thể hiện phần lớn nội dung của chương.

VD: Tên truyện: Nắm tay người, kéo người đi.

Nên chuyển thành: “Tay nắm tay, cùng nhau cất bước” sẽ hay hơn

Tên truyện: Cùng anh dây dưa không rõ.

Nên dịch thế nào cho hay mình cũng chưa nghĩ ra, nhưng tên truyện như trên chắc chắn không ổn, bên Kites dịch tên truyện trên là “Chạy đâu cho thoát” mình thấy cũng khá ổn.

Thơ từ ca phú, Luận ngữ, trích dẫn sách…trước hết nên tìm xem có bản dịch rồi hay không, nếu có hãy dùng trong bản edit của bạn và nhớ ghi tên người dịch, lưu ý là khi tìm kiếm bản dịch hãy copy bản phiên âm Hán Việt để tìm, nếu không tìm thấy thì cố thử chuyển ngữ, vì nếu bạn không chuyển ngữ thì người đọc không thể nào hiểu cho nổi. Nếu không chuyển ngữ nổi thì hãy copy bản phiên âm Hán việt, không bao giờ được copy bản Vietphrase một nghĩa vì bản này từ nào dịch được thì dịch, từ nào không dịch được thì thôi, đọc bản này rất là kỳ cục.

5.  Nguyên tắc 5: Nguyên tắc về trình bày.

Cuối cùng bạn nên trình bày theo đúng format của word, cũng không nên chia chương quá ngắn, nếu không có thời gian edit một chương dài, bạn hãy post với thời gian cách xa nhau một chút, nếu chia chương quá ngắn chỉ chừng 1-2 trang word, người đọc cũng rất là mệt, mà lại cắt ý của tác giả ra quá nhiều phần. Cũng không nên viết quá nhiều bình luận khi edit, có lần mình đọc được bản edit là hai bạn edit gần như chat với nhau trong đó luôn, rồi bình luận, chê bai nhân vật phản diện. Cũng không nên spoil làm độc giả biết trước.

 

 

Trên đây mình đã hướng dẫn sơ lược cách edit, còn bản edit có thành công hay không tùy thuộc vào các bạn. Hi vọng bài viết này sẽ có ích cho các bạn. Cám ơn vì đã xem bài :)

9 COMMENTS

  1. Chào Nhã Vy, mình thấy cách bạn hướng dẫn edit hay quá. Nếu bạn đồng ý cho mình cop về để tham khảo được không, chỉ lưu hành nội bộ thôi, mình hứa, mình đảm bảo luôn..hjhj.

  2. Edit thật không dễ, phải bỏ biết bao nhiêu là công sức, bài viết của bạn rất tỉ mỉ, mình có thể học hỏi nhiều thứ từ bài viết của bạn, truyện bạn edit mượt giống như là truyện dịch vậy.

ptc99 ptc98 ptc97 ptc96 ptc94 ptc93 ptc91 ptc90 ptc9 ptc89 ptc88 ptc86 ptc85 ptc84 ptc83 ptc81 ptc80 ptc79 ptc78 ptc77 ptc76 ptc75 ptc74 ptc73 ptc72 ptc7 ptc68 ptc67 ptc66 ptc63 ptc62 ptc61 ptc6 ptc59 ptc58 ptc57 ptc56 ptc55 ptc54 ptc53 ptc52 ptc51 ptc50 ptc5 ptc49 ptc48 ptc47 ptc46 ptc45 ptc44 ptc43 ptc42 ptc40 ptc4 ptc39 ptc37 ptc35 ptc34 ptc32 ptc31 ptc30 ptc3 ptc28 ptc25 ptc23 ptc22 ptc21 ptc20 ptc2 ptc19 ptc18 ptc17 ptc16 ptc153 ptc152 ptc151 ptc150 ptc15 ptc149 ptc148 ptc147 ptc146 ptc145 ptc144 ptc143 ptc142 ptc141 ptc140 ptc139 ptc138 ptc137 ptc136 ptc135 ptc134 ptc131ptc132 ptc130 ptc13 ptc129 ptc128 ptc127 ptc126 ptc125 ptc124 ptc123 ptc122 ptc121 ptc120 ptc12 ptc119 ptc118 ptc117 ptc116 ptc115 ptc114 ptc113 ptc112 ptc111 ptc110 ptc11 ptc109 ptc108 ptc107 ptc106 ptc105 ptc104 ptc103 ptc102 ptc101 ptc100 ptc10 ptc01

LEAVE A REPLY